Nhà Thơ Vân Anh
Trang chủ của nhà thơ Vân Anh
Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026
Bản cuối cùng NGƯỜI MẸ CỦA ANH HÙNG VÀ THI NHÂN
BẢN CUỐI BÀI NGƯỜI MẸ CỦA ANH HÙNG VÀ THI NHÂN
NGƯỜI MẸ CỦA ANH HÙNG VÀ THI NHÂN
Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026
NGẪU HỨNG DẠI KHÔN - Thơ Văn Anh
Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026
CHÙM THƠ DỰ TRẠI SÁNG TÁC CẦN THƠ CỦA NHÀ THƠ VÁN ANH (6/4-15/4/2026)
CHÙM THƠ DỰ TRẠI SÁNG TÁC CẦN THƠ CỦA NHÀ THƠ VÂN ANH
Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026
CHÙM THƠ DỰ TRẠI SÁNG TÁC CẦN THƠ CỦA NHÀ THƠ VÁN ANH (6/4-15/4/2026)
BẢN CUỐ CÙNGI BÀI THƠ HỒN THIÊNG LIỆT SĨ TÌM VỀ - Thơ Vân Anh
BẢN CUỐI BÀI THƠ HỒN THIÊNG LIỆT SĨ TÌM VỀ - Thơ Vân Anh
Fwd: HỒN THIÊNG LIỆT SĨ TÌM VỀ - Thơ Vân Anh
HỒN THIÊNG LIỆT SĨ TÌM VỀ - Thơ Vân Anh
Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026
Hạt bụi .thơ Vân Anh
Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026
LỤC BÁT THÁNG BA
Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2026
Cô Vân Anh gửi Ngọc Chi bài của nhà văn Hoàng Đăng Khoa
Khâu buồn làm áo che thân
(Đọc Trầm tích thời gian, tập thơ của Vân Anh, NXB Nghệ An, 2025)
HOÀNG ĐĂNG KHOA
1. Nỗi buồn từ lâu vốn là một hằng số của thi ca; trong thơ nữ Việt Nam đương đại, nó còn mang chức năng nhận thức, trở thành phương tiện tự sự để phơi bày và kiến tạo chân dung tinh thần giới nữ. Trong Trầm tích thời gian, Vân Anh thực hành thao tác thẩm mĩ chủ đạo: "khâu" nỗi buồn lại để cấu tạo bản thể thi sĩ đồng thời công bố một diễn ngôn nhân văn về lịch sử và thân phận.
Vân Anh viết:
Trái tim cô đơn từ muôn kiếp trước
tâm hồn khao khát đến muôn kiếp sau
đa tình bẩm sinh trong máu
khâu buồn làm áo che thân
(Chân dung tự họa)
"Khâu buồn làm áo che thân" - câu thơ như một tuyên ngôn thi ca, cũng là một triết lí sống. Nỗi buồn - vốn dễ bị xem là gánh nặng tâm lí, là yếu đuối uỷ mị - trong thơ Vân Anh lại trở thành chất liệu sáng tạo, thành tấm áo vừa để bảo bọc vừa để hiển thị bản ngã. Câu thơ ấy cũng có thể xem như chìa khóa thông mở vào thi giới Trầm tích thời gian - tập thơ thứ chín của chị, nơi hội tụ hơn sáu thập kỉ nữ thi sĩ đắm mình trong chữ nghĩa, với bao lớp "trầm tích" của đời sống, kí ức, nhân sinh, lịch sử.
Nhà thơ ở tuổi gần tám mươi, sau khi đi qua biết bao biến động đời người và nhân thế, không chọn tiếng cười mà vẫn chọn nỗi buồn. Nhưng đó là một nỗi buồn đã được "khâu" lại, nghĩa là đã qua tay nghề của kinh nghiệm, của chiêm nghiệm, của thi ca. Nó không còn rời rạc, vụn vỡ, mà trở thành một tấm áo tinh thần để chị khoác lên mình, bước đi giữa nhân gian.
2. Đọc Trầm tích thời gian, ta bắt gặp nhiều lần nhà thơ tự vấn, nhiều cuộc nhà thơ tự tìm mình. Những câu hỏi như "Ta là ai? Ta đến từ đâu? Ta phải sống thế nào?" từng ám ảnh bao thế hệ triết gia - thi sĩ, nhưng trong giọng thơ của Vân Anh, nó nhuốm màu của một người đàn bà từng trải, đa sự: yếu đuối và mạnh mẽ, chán nản và hi vọng, phủ định và khẳng định, âu lo và tự tin.
Ở một bài khác, chị viết:
Ta là ta, là duy nhất
tự mình thảnh thơi và tất bật
tự mình dối trá và chân thật
tự mình quẳng đi và gom nhặt
tự mình đong đếm được mất
tự mình toả sáng và lụi tắt…
(Bản ngã I)
Đây là dạng cái tôi hiện sinh mang đậm sắc thái nữ quyền: vừa tự phủ định vừa tự khẳng định, cho thấy một ngã thể đàn bà vừa dằn vặt vừa kiêu hãnh. Thơ, với Vân Anh, chính là cách "khâu buồn" - tức là nắm giữ, sắp đặt, chắp nối lại những mảnh vỡ tự thân để thành nhân vị và nhân dạng riêng mình.
3. Thơ Vân Anh có nhiều lớp nỗi buồn. Đó là nỗi buồn thân phận đàn bà:
Những người đàn bà goá
cô đơn thiêu đốt thịt da
đổ lúa ra xay
đổ trấu ra xay
xay cạn đêm...
(Xứ Nghệ)
Hình ảnh những góa phụ cháy dọc mùa đông/ trằn trọc lửa củi sim gợi một nỗi cô độc thấm vào thân xác. Nỗi buồn ở đây không chỉ mang tính cá nhân mà còn là nỗi chung của bao thế hệ phụ nữ trong vùng đất khắc nghiệt.
Cùng lúc, có nỗi buồn lịch sử, gắn liền với quê hương, với chiến tranh, với thân phận dân tộc. Trong Trầm tích lịch sử, Vân Anh viết:
Nỗi đau mưu sinh
nỗi đau chiến tranh
cứa vào trái tim thi nhân
nhả ngọc thi ca...
Ở đây, thơ Vân Anh là một diễn ngôn kí ức, nơi nỗi buồn cá nhân tan chảy vào kí ức tập thể của cả một vùng văn hóa. Nhà thơ run rẩy đa mang gánh nỗi buồn của cộng đồng; nhờ thế, tiếng thơ chị gắn kết sâu với những bi tráng của lịch sử vùng miền.
4. Nếu nỗi buồn chỉ dừng ở than thở thì sẽ thành vô nghĩa. Vân Anh "khâu buồn" không phải để giữ cho riêng mình, mà để nó trở thành áo, tức là một lớp che chở và cũng là biểu hiện ra bên ngoài. Bằng cách đó, buồn trong thơ chị biến thành một hình thức "sẻ chia".
Thử đọc những câu thơ chị viết cho nữ sinh bị bạo lực học đường:
Vắt giọt thương từ trái tim làm mẹ
vắt giọt sẻ chia từ trái tim thi sĩ
vắt giọt ăn năn của lương tri
dâng Em
vần thơ ứa giọt đau buồn
(Dâng nữ sinh khép lại tuổi 17)
Đây là một ví dụ tiêu biểu của "khâu buồn": từ một bi kịch riêng, nhà thơ kết dệt nên tấm áo của nhân quần, trong đó mỗi sợi chỉ dệt từ "giọt thương", "giọt sẻ chia", "giọt ăn năn". Nỗi buồn không còn đơn độc, mà mở ra chiều kích nhân loại, nhân văn.
Cũng vậy, trong bài Lời ru mùa đại dịch, viết cho một em bé chỉ mười ngày tuổi trên đường hồi hương bằng xe máy, buồn lại trở thành ru, thành giấc ngủ lành:
À ơi
em ngủ cho ngoan...
mai sau đọc vần thơ lưu giữ ngày đại dịch
em lại làm một Ông Bụt hiền lương
Đây là sự dịch chuyển từ nỗi buồn cá nhân sang nỗi buồn tha nhân, khi thơ trở thành nơi cất giữ và lan tỏa những thương tổn xã hội.
5. Một mạch quan trọng trong thơ Vân Anh là "đức tin". Trong bài Đức tin, chị khẳng định:
Lạc Đức Tin
ta sẽ là con thú hoang sống giữa rừng nhân thế
ta sẽ là con cá dữ sống giữa đại dương nhân thế
Đức Tin
nguồn siêu năng lượng
nạp cho ta sống kiếp Làm Người
Ở bình diện mĩ học, "đức tin" trong thơ Vân Anh không phải niềm tin tôn giáo thuần tuý mà là niềm tin thế tục (secular faith), một "nguồn siêu năng lượng" giúp thi sĩ giữ thế cân bằng giữa bi kịch và khát vọng vượt thoát. Nhờ đức tin, nỗi buồn không biến thành tuyệt vọng, mà trở thành động lực để tiếp tục "sống", tiếp tục yêu thương. Ở đây, áo buồn không chỉ là tấm che chở, mà còn là y phục của niềm tin - một thứ áo giáp tinh thần để con người có thể đi qua giông bão.
6. Trong Trầm tích thời gian, Vân Anh chủ yếu viết thơ tự do, bên cạnh đó có nhiều bài lục bát, song thất lục bát, thậm chí những biến thể hiện đại. Dù ở thể loại nào, "khâu buồn" cũng là một thao tác thẩm mĩ: chọn lọc, sắp đặt, biến những trải nghiệm đau thương thành vần điệu.
Chẳng hạn, bài Sẹo buồn ngắn gọn mà gợi ám ảnh:
Nhành thu rơi vào tim nhớ
thắp lửa tình xưa vào thơ
...
sẹo buồn trở trời nhức mỏi
hoài niệm sao bỗng mọc chồi
Hình tượng "sẹo buồn" là một kiểu thẩm mĩ hóa thân thể, nơi cơ thể trở thành văn bản lưu giữ kí ức. "Sẹo buồn trở trời nhức mỏi" đồng nghĩa với nỗi buồn không biến mất, mà hoá thành kí ức sống động, nguồn thi liệu ấm nóng.
7. Không ít bài trong tập thơ gắn liền với quê hương xứ Nghệ, nơi vừa khắc nghiệt vừa giàu hào khí. Vân Anh viết:
Đất miền Trung cằn khô cong đòn gánh
oằn gánh hai đầu Tổ quốc
...
người miền Trung
mười ngón chân hoá rễ cây bám đất
mười ngón tay hoá cành lá hút cạn Mặt Trời
(Đất và người miền Trung)
Qua hình tượng đất và người miền Trung, thơ Vân Anh khẳng định mã địa văn hóa đã định hình căn tính sáng tạo của chị. Buồn vì thiên nhiên khắc nghiệt, vì bao đời lam lũ, nhưng đồng thời lại là niềm kiêu hãnh, niềm tự tôn. Khi "khâu buồn" vào thơ, chị cũng đồng thời khâu vào đó tinh thần bất khuất, sức sống vươn lên từ sỏi đá.
8. Trầm tích thời gian có nhiều bài như là những diễn ngôn triết học thi ca, chẳng hạn Cài đặt lại ta, Tự ru, Ngẫm… Ở đó, nỗi buồn trở thành phương tiện nhận thức:
Tự mình chưng cất vần thơ
ngọt cay độc ẩm, bao giờ hết say?
(Tự ru)
"Say" ở đây không chỉ là say rượu hay say tình, mà còn là say nỗi buồn. Thi sĩ uống nỗi buồn, "chưng cất" nó thành ngôn từ. Bởi vậy, "khâu buồn làm áo che thân" cũng có nghĩa: biến buồn thành tác phẩm, thành tự ngã được lưu giữ trong thi ca.
9. Câu thơ "khâu buồn làm áo che thân" không chỉ là một lời tự họa. Nó đã trở thành không khí bao trùm của Trầm tích thời gian. Vân Anh đã cho thấy rằng nỗi buồn - vốn thường bị gạt ra ngoài - thực chất là một dạng năng lượng tinh thần. Khâu buồn tức là biến năng lượng ấy thành hình thức, thành y phục, thành cõi riêng, tức là "lộ thiên trầm tích Ta", như câu thơ chị viết trong bài Ngụ ngôn cho mình I.
Ở tuổi gần tám mươi, nhà thơ không còn viết để chinh phục hay để nổi loạn, mà viết để lưu lại chứng tích sống, để nới giãn hữu hạn thời gian đời người, để độ lượng với chính mình, để thoả hiệp với chiêm mộng nhân sinh.
Và có lẽ, khi khép lại tập thơ, mỗi độc giả cũng thấy mình mặc trên người một tấm áo thi ca - chiếc áo của nỗi buồn đã được khâu lại bằng sợi chỉ của đức tin, của nỗi thèm yêu khát sống.
Như vậy, "khâu buồn làm áo che thân" là ẩn dụ trung tâm cho thi giới Vân Anh, đồng thời góp thêm một tiếng nói thơ giàu bản sắc vào dòng thơ nữ Việt Nam đương đại. Đọc Trầm tích thời gian, củng cố ở người đọc xác tín: từ khởi thuỷ đến tận thế, thơ luôn là một liều cứu rỗi. Như nhà thơ người Hungary Sándor Halmosi từng viết:
Thiên thần buông tay
Bài thơ thì vẫn nắm chặt lấy.
Fwd: BÀI VIẾT CỦA NHÀ THƠ BÙI SĨ HOA
Từ: Van Anh Nguyen Thi <nhathovananh@gmail.com>
Date: 15:21 T.7, 28 Th6, 2025
Subject: BÀI VIẾT CỦA NHÀ THƠ BÙI SĨ HOA
To: <nhathovananh.nghean@blogger.com>
THƠ VÂN ANH "MẶC ĐỊNH NHỊP TRẺ"
(Nhân đọc tập thơ Trầm tích thời gian, NXB Nghệ An-2025)
Dễ thấy lâu nay, người viết khi cho in tuyển tập đồng nghĩa với việc gom lại, khép lại quá trình sáng tác. Nhưng cũng có người sau đó vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm, không phải "út, ít" bòn mót, mà là những "đứa con" bụ bẫm, khỏe mạnh, ai cũng tấm tắc, trầm trồ. Trường hợp nhà thơ Vân Anh, sau khi cho ra đời Vân Anh -Tuyển tập thơ (2023) và ngay sau đó ra mắt Trầm tích thời gian (2025) là một ví dụ rõ nét.
Khi đọc bản thảo tập thơ Trầm tích thời gian, tôi vừa được đọc bài giới thiệu khá công phu của PGS. TS Nhà văn Đinh Trí Dũng, lại vừa có dịp đọc lại những bài thơ từng in trên báo chí văn nghệ, trên facebook…, nghĩa là đọc hệ thống, căn cơ, thực sự đọc và ngẫm về một tác giả từng trải, về một tạng thơ nữ mạnh mẽ, bao dung, một cá tính thơ đầy khát khao, dâng hiến, một ngòi bút tìm tòi không có tuổi.
Tôi vừa đọc lại vừa ghi chép, vừa im lắng, rồi tự mình sắp xếp lại có chủ ý những khổ thơ, câu thơ, ý thơ trong Trầm tích thời gian nhờ sự mách bảo từ đâu đó trong tâm niệm, ý thức lâu nay của mình. Tôi cũng chủ động tìm đọc lần nữa những tập thơ, bài thơ của tác giả Vân Anh, của người khác khi thấy có sự đồng điệu, trùng khớp nào đó về cùng một chủ đề, một lối cảm và viết. Nhưng trước hết, không hiểu sao tôi nghĩ đến những câu ca dao truyền thống về thân phận người phụ nữ "Thân em như tấm lụa đào…", nghĩ đến câu thơ "quật khởi" của nữ sĩ Hồ Xuân Hương "Kẻ đắp chăn bông, kể lạnh lùng/Chém cha cái kiếp lấy chồng chung" (Lấy chồng chung) hay câu Kiều tỉnh thức "Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình"(Nguyễn Du). Tôi nghĩ đến những sáng tác văn học mang đậm dấu ấn về nữ giới và quyền bình đẳng, thể hiện sinh động khát vọng con người, khát vọng tình yêu, thể hiện tâm hồn nữ giới phong phú, chân thành, tự do và mãnh liệt…
Tôi đã có dịp đọc gần như trọn vẹn cả 9 tập thơ của nhà thơ Vân Anh, từng sống và sáng tác trong ngôi nhà chung Văn nghệ Nghệ Tĩnh rồi Nghệ An, hiểu rõ từng "chân tơ, kẽ tóc" của câu thơ, bài thơ, của từng bước chuyển, bước đi trong cuộc sống thường ngày. Để rồi, tôi lại thấy, kể từ tập thơ đầu tiên in chung Hương thơm, cỏ vắng (1987) cho đến Trầm tích thời gian (2025), thơ Vân Anh vẫn là con sóng tình yêu đầu tiên, là con sóng khát* đêm đêm vỗ bờ đó, là dòng chảy thao thiết trong hơn và đục hơn, nhanh hơn và chậm hơn, bề mặt như bình yên hơn nhưng đáy lòng dữ dội một cách kín lắng hơn.
Thì đây, một người thơ qua bao năm tháng buồn vui, qua bao gập ghềnh, trắc trở, trải bao trầm-tích-thời-gian mà ngòi bút thơ, tấm lòng thơ vẫn thấy mình ở thuở ban đầu, ở bước yêu, bước thơ đầu tiên. Điều đó được nhà thơ viết ra như một định đề, một tuyên ngôn của thơ mình:
"Còn những tâm hồn lạ
Rất quen ở quanh ta
Còn đất trời bao la
Bao nhiêu điều hoang hóa"
(Khám phá)
Vẫn là nhịp đập đầu tiên, dù đã trải qua biết bao bến bờ lở bồi, đầy vơi:
"Ước gì trái tim người là băng trắng
Ta ghi lời yêu đầu tiên"
(Không đề)
"Ước gì trái đất ngừng quay
Cho ta cứ mãi thơ ngây, dại khờ"
(Giọt trầm tư)
Những vỉa, tầng trầm tích tình yêu, trầm tích trái tim cứ thế hiện ra với những nét chân dung "mặc định":
"Sao trái tim yêu mặc định nhịp trẻ
Sao tâm hồn cứ đong đầy khát mê"
(Giọt trầm tư)
Tôi từng đọc thấy người thơ viết cách nay chưa lâu:
"Sợ trái tim ta
Con ngựa hoang
Không thuộc bài phi nước kiệu
Tình yêu"
(Sợ)**
Đến nay vẫn lại là người ấy, trái tim loạn nhịp ấy dù thời gian và năm tháng mỏi mòn:
"Mùa thu nhốt chặt trái tim
Ngựa hoang quen thói đi tìm rừng xanh"
(Lục bát trái tim mùa thu)
"Trái tim không đi đường quang lại chọn lối hoang"
(Thư ta gửi người)
Và hình thành một cặp mâu thuẫn: khát khao tìm mới lạ ấy như một sự chung thủy dài lâu. Thêm một vỉa, tầng nữa của chiều sâu không dễ thấy:
"Ta luôn bị trái tim dắt vào miền đất lạ
Lần nào cũng mong người đứng đợi từ lâu"
(Thư ta gửi người)
Người thơ xưa nay "yêu thì nói là yêu", chưa bao giờ biết nói vòng, nói tránh, lúc nào cũng thẳng băng, quyết liệt, nên dù cuộc đời có dâu bể đến đâu thì vẫn luôn "Cứ thô mộc bản ngã/Căn cốt của riêng ta/Không cần đeo mặt nạ"(Bản ngã). Người thơ hơn một lần khẳng khái "Ta muốn sống như chưa hề được sống" (Tự bạch), nghĩa là muốn và sẽ sống như đã sống, như mẹ cha đã sinh ra mình, như xứ Phuống chôn rau cắt rốn đã nuôi nấng, nâng bước mình, như nhịp tim yêu đập những nhịp thơ mình, như con sóng khát vỗ tràn năm tháng…Cứ thế, dần dà vỉa, tầng hiện ra, bí ẩn và rõ rành, vút cao rồi sâu thẳm, im lắng rồi vang xa theo nhịp con sóng khát, con sóng reo, con sóng hòa vào thế cuộc, nhân gian…
Đọc và ngẫm nhiều bài thơ trong tập Trầm tích thời gian, vì thế tôi chú ý hơn cả đến bài thơ viết về Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, có tên Lỗi nhịp nhân gian. Tất nhiên, "đôi vần tri âm", mỗi điển tích thơ, mỗi cảm xúc thơ đều tập trung làm đậm hình tượng thơ Hồ Xuân Hương và nhà thơ thành công với cách làm quen thuộc đó:
"Tự họa chân dung trác lạ
Tự khoe nõn nường thiếu nữ
Tự ngã "tấm lòng son" giữa "bảy nổi ba chìm…"
Nhà thơ nói đến nữ quyền, nói đến khát vọng tình yêu trong thơ Hồ Xuân Hương cũng chính là nói lên khát vọng tình yêu của chính mình, của một người hậu thế "tri âm, tri kỷ", của người thơ "thơ không son phấn, mấp mô nhịp đời", của sự đồng cảm, nâng bước, của niềm tin, của nữ quyền trong xã hội mới.
Để lại thấy trong thơ Vân Anh, như những chân dung tự họa với nhiều nét mới, sắc về người phụ nữ, mà người thơ thường nói là "người đàn bà" không chút ngại ngần. Đó là nỗi khát khao, khát vọng vươn tìm của tình yêu, của cuộc đời, của một người đã từng trải với "trái tim hồng chật chội những ước mong":
"Vắt giọt thương từ trái tim làm mẹ
Vắt giọt sẻ chia từ trái tim thi sĩ
Vắt giọt ăn năn của lương tri…"
(Dâng nữ sinh tuổi 17)
Mấp mô, khấp khểnh câu hỏi, câu trả lời:
"Ta bị xiềng vào đá
Hay đá bị xiềng vào ta
Cả hai khát giấc mơ lạ"
(Bản ngã)
Bức chân dung hai mặt song hành tồn tại, biến đổi, chấp chịu và va đập, sẹo lành và mưng mủ:
"Tự mình thảnh thơi và tất bật
Tự mình dối trá và chân thật
Tự mình quẳng đi và gom nhặt
Tự mình đong đếm được mất
Tự mình tỏa sáng và lụi tắt"
(Bản ngã)
Đó là người đàn bà bí ẩn "Nàng còn một điều chưa nói/Hơn mọi bí mật trên đời"(Giọt thầm), là người tự mình rối quẫn "Tự mình làm khó trái tim" (Tự ru). Hơn nữa, không chỉ nói được, nói hết cho mình mà còn nói hộ, nói to lên để khẳng định mình, giới mình, khẳng định sự thẳm sâu không dễ gì biết được, một sự tự thú vô cùng kiêu hãnh:
"Đàn bà miệng hổ, lòng nai"
(Tản mạn đàn bà và đàn ông)
"Một đời mẹ oằn vai gánh giang sơn nhà chồng"
(Vọng quê)
Một điều "xưa nay hiếm" mà lại thường tình trong câu chuyện tình mẫu tử:
"Có một vòng ôm mẹ luôn độ lượng nhẫn nại chờ ta sau bao lần ngoan cố lạc đường"
(Nhớ về xứ Phuống)
Tôi muốn nói và nói kỹ về một khổ thơ của nhà thơ Vân Anh trong bài Xứ Nghệ:
"Những người đàn bà góa
Cô đơn thiêu đốt thịt da đổ lúa ra xay, đổ trấu ra xay
Xay cạn đêm"
Hai câu đầu không cũ, không mới, là chuyện nhiều người biết, nhiều người viết và viết hay trong các khoảnh khắc khác nhau, trạng huống khác nhau của đời sống, của chiến tranh cũng như hòa bình, từ văn học dận gian tới bác học. Đến đây thì dường như ai cũng có thể nhớ đến khung cảnh cô đơn khao khát hay góa bụa mỏi mòn của bao người đàn bà, tình huống "cơm hai bát, bát ăn, bát để, đũa so đôi đứng, đôi nằm"(Thử lòng chung thủy) trong dân ca ví dặm Nghệ-Tĩnh, rồi trong thơ hiện đại nói về người phụ nữ chờ chồng trong chiến tranh "chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền"(Hữu Thỉnh) hay cụ thể một tình huống gần giống nhà thơ Vân Anh mô tả trên đây, không phải tiếng cối xay, là "Tiếng chày khuya giã trấu"*** trong thơ Nguyễn Đình Minh từ bối cảnh:
"Những cơn mơ bị ép xuống giường
Ép đến cháy thành hơi trên chiếu cói"
Đến cảnh huống cuối cùng:
"Những khát khao chắp đến ngàn lần chẳng nối được… một vòng ôm"
Để rồi những người đàn bà không còn cách nào khác, buộc phải gửi "nỗi lòng tê tái" vào những nhịp chày giã trấu đêm:
Vắt những khát thèm chính chuyên ra ngoài thể xác
Những giây phút sống đau hơn chết
Cắn đến bật máu môi, để tắt tiếng cỏ cây lặng lẽ sinh tồn"
Những giây phút "sống đau hơn chết" của người đàn bà đó, không phải ngẫu nhiên được nhiều nhà thơ đồng cảm, sẻ chia và lên tiếng. Nhà thơ Vân Anh từ sự cảm thông, đồng vọng sâu sắc với Hồ Xuân Hương, nhất là khí chất nữ quyền, khao khát tự do nói trên, lại vốn có "trái tim yêu mặc định nhịp trẻ", người mang trái tim "dâng hiến trăm năm", buồn vui thành sẹo rồi vẫn cứ "hoài niệm mọc chồi"…thì không thể không nói đến những người đàn bà góa và cảnh huống vốn thường bị giấu nhẹm trước đây.
Với nhà thơ Vân Anh, cảnh huống đó được mở rộng từ "xay lúa" đến "xay trấu", tức hết lúa thì còn xay cả trấu, mà xay trấu thì…thương đến kiệt cùng thương! Câu kết khổ thơ "Xay cạn đêm" là một câu thơ hay, bất ngờ và chí lý với chỉ ba từ ngỡ cụt ngủn mà dằng dặc đớn đau.
Thơ Vân Anh, điểm mạnh thấy rõ lâu nay chính là ở chỗ kiệm lời, gọn sắc để tạo tứ khác biệt, riêng có. Tập thơ Trầm tích thời gian hiện ra nhiều lớp "trầm tích" quý, có thể dễ thấy, cũng có thể khó thấy nhưng nhất quán về cá tính sáng tạo, về tư tưởng và những nét riêng, nét mới không lẫn vào bất cứ ai. Ấy là một người thơ luôn sống và viết "mặc định nhịp trẻ", bằng cách "xay cạn đêm" đầy khát khao, đầy bản ngã./.
BÙI SỸ HOA
---
*Tên một tập thơ của Vân Anh: Con sóng khát, NXB Hội Nhà văn-2009
** Thơ Vân Anh trong Tuyển thơ Nghệ An 10 năm đầu thế kỷ XXI, NXB Nghệ An-2010
***Thơ Nguyễn Đình Minh trong Thơ thế giới-Thế giới thơ, NXB Hội Nhà văn -2023